Đảng Cộng Sản Việt Nam Qua Những Biến Động Trong Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế . (6)

( Nguyễn Minh Cần )

II. Đôi điều về Đảng Cộng Sản Việt Nam (ĐCSVN) 

Ở đây, chúng tôi không tŕnh bày lịch sử ĐCSVN, mà chỉ phác qua đôi điều nhận xét về ĐCSVN.

1. Khách quan mà xét, trong sự xuất hiện của Đảng cộng sản Việt Nam/Đảng cộng sản Đông Dương (xin viết gọn là ĐCSVN) trên sân khấu chính trị nước ta, những yếu tố bên ngoài đóng vai tṛ chính yếu. Cố nhiên, không có những yếu tố trong nước - t́nh h́nh kinh tế, xă hội, đấu tranh của dân chúng - th́ không thể xuất hiện được đảng, nhưng phải nói thẳng rằng khi lập ĐCSVN và trong buổi đầu tồn tại của đảng, những yếu tố bên ngoài thực tế đă đóng vai tṛ chủ yếu. Cả ư thức hệ, tức là tư tưởng, chủ nghĩa, cả đường lối cụ thể, tức là chiến lược, sách lược, cả các quan điểm về ĐCS... đều du nhập từ nước ngoài. Các chỉ thị cụ thể về xây dựng đảng đều được đề ra bởi người nước ngoài. Tiền tài, phương tiện vật chất ... đều do nước ngoài cung cấp. Thậm chí cán bộ cũng do nước ngoài tuyển lựa, nuôi dưỡng, đào tạo rồi đưa về Việt Nam. Đó là một thực tế kéo dài trong nhiều năm tồn tại của ĐCSVN. Để minh họa điều vừa nói, xin nêu vài tài liệu cụ thể. Trong tác phẩm "Việc đào tạo những nhà cách mạng Việt Nam trong các trường đại học của nước Nga xô-viết trong những năm 20-30" của nhà Việt học A. Sokolov, có đưa ra con số 67 người Việt Nam đă được nước Nga xô-viết đào tạo từ năm 1925 đến khoảng năm 1936 (trong bài của A. Sokolov tính đến năm 1938, đó là trường hợp của Lin, hay Linov, tức là Nguyễn Aùi Quốc, nhưng điều đó chỉ là trên giấy tờ mà thôi, thực tế hồi đó, Lin, hay Linov không c̣n học ở Moskva nữa). Con số này tác giả đă sưu tập rất công phu khi nghiên cứu ở kho lưu trữ của Cộng Sản Quốc Tế, cộng số học viên Việt Nam đến học ở Trường đại học cộng sản của những người lao động phương Đông (tiếng Nga viết tắt là KUTV), Trường quốc tế Lenin (MLSH) và Học viện nghiên cứu khoa học các vấn đề dân tộc và thuộc địa (NIINKP). Con số này chắc chắn là chưa đầy đủ, v́ tác giả không thể biết hết các bí danh học viên Việt Nam đă dùng, không biết được số học viên các trường đặc biệt rất bí mật của ngành quân sự và mật vụ, cũng như có một số người Đông Dương do ĐCS Pháp cử đến học ở các trường nói trên lại mang tên Pháp nên không thể đoán được (xem sách: „Nước Việt Nam truyền thống“, Quyển 2, Moskva, 1996, tr. 143-177).

C̣n để bạn đọc biết rơ phần nào nguồn tài chính QTCS đă chi ra cho việc chuẩn bị thành lập ĐCSVN, chúng tôi chỉ xin dẫn một trong nhiều tài liệu về vấn đề này c̣n lưu trữ tại RSKHIDNI. Đó là biên bản cuộc họp ngày 3.3.1927 tại Canton (Quảng Châu) của ba người là Doriot, Voline (đại diện cho Phân bộ) và Lee (ghi theo biên bản, có lẽ đọc là Lư, hồi đó Lư, hay Lư Thụy, làm việc cho Borodin - trong văn bản tiếng Nga có chú thêm: Nguyễn Aùi Quấc) để bàn về vấn đề: chính trị, tổ chức và ngân sách. Biên bản có ghi rơ: "giao cho Doriot viết tuyên ngôn gửi thanh niên Đông Dương, c̣n Lee làm dự chi để gửi lên QTCS (Cộng Sản Quốc Tế)". Đồng thời ở đây cũng kèm luôn "tờ tŕnh" (RSKHIDNI, Kho 495, Bảng kê 154, Hồ sơ 555, tr. 5) về các dự chi trong năm: 

"a/ đưa đến Canton 100 tuyên truyền viên: 200 $ X 100 người = 20 000 $ (đô la Trung Quốc); 
b/ tối thiểu 10 tuyên truyền viên tự do (chúng tôi không hiểu chữ „tự do“ ở đây nghĩa là ǵ - NMC): 150 $ X 10 = 1 500 $; c/ nhà in, giấy, việc in ấn = 1 500 $; 
c/ chi phí về tổ chức = 7000 $; 
d/ đưa 100 người đến học viện quân sự Wampoa (Hoàng Phố) = 5 000 $; 
e/ chi phí bất thường = 5 000 $; tổng cộng = 40 000 $ (đô la Trung Quốc).

Chắc cái dự chi này về sau không được thực hiện tất cả, v́ phái bộ Borodin quá lợi dụng sự thân thiện của Quốc Dân Đảng Trung Quốc đă mở rộng hoạt động mạnh mẽ để gieo cấy các tổ chức cộng sản và gián điệp xô-viết vào các nước châu Á và ngay cả ở Trung Quốc, nên cuối cùng cả phái bộ đă bị chính phủ Trung Hoa Dân quốc trục xuất hồi cuối năm 1927.

Cố nhiên, ngày nay, ban lănh đạo ĐCSVN không thích nói đến những điều này, họ muốn "đề cao“ tính chất "độc lập" của đảng. Nhưng "độc lập“ như thế nào được, khi chính Nguyễn Ái Quốc đă nói trong bài giảng cho cán bộ hồi năm 1926: "... Đệ Tam Quốc tế là một ĐCS thế giới. Các đảng các nước như là chi bộ, đều phải nghe theo kế hoạch và quy tắc chung. Việc ǵ chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc tế th́ các đảng không được làm" (xem: Hồ Chí Minh. T.1)? Việc ra đời của ĐCSVN hồi năm 1930 cũng là theo chỉ thị QTCS. Sau khi đại hội „Việt Nam cách mạng thanh niên đồng chí hội“ (1929) xin gia nhập QTCS, BCH QTCS có gửi thư trả lời, phê phán những sai lầm hay thiếu sót trong đường lối cũng như trong điều lệ và chỉ thị cụ thể về cách thức xây dựng ĐCS. Sau đó, QTCS c̣n ra một chỉ thị nữa vào ngày 27.10.1929 „về việc thành lập một ĐCS Đông Dương“ với những hướng dẫn cụ thể về nhiều mă.t. Những chỉ thị này kèm theo những sự giúp đỡ về vật chất và cán bộ đă tạo điều kiện cho sự ra đời của ĐCS trên bán đảo Đông Dương hoàn toàn theo đúng tiêu chuẩn của QTCS.

Không thể phủ nhận rằng nhiều người Việt Nam đă đến với QTCS v́ ḷng yêu nước. Nhưng khi họ đă tiếp thụ say mê chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin th́ chủ nghĩa quốc tế vô sản (cụ thể là giành chuyên chính vô sản trên phạm vi thế giới) đă trở thành mục tiêu tối thượng của họ, và họ theo sách lược của Lenin-Stalin khéo léo lợi dụng ḷng yêu nước của dân tộc để cướp chính quyền, thiết lập chuyên chính vô sản trên đất nước ḿnh nhằm tiến tới mục tiêu tối thượng của họ và QTCS. Cho nên việc theo "mệnh lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc tế" là điều dĩ nhiên đối với họ. Nói chung, những người cộng sản trên thế giới đều coi việc giành chuyên chính vô sản ở nước ḿnh, cũng như mở rộng chuyên chính đó ra các nước khác đều là "làm nghĩa vụ quốc tế".

2. ĐCSVN ra đời hồi năm 1930 đúng vào lúc chủ nghĩa Stalin đă hoàn toàn thống trị ở Liên Xô và trong toàn bộ PTCSQT, do đó từ thời ấu thơ đă tiếp thụ sâu đậm lư luận và thực hành chẳng những của chủ nghĩa Lenin, mà cả của chủ nghĩa Stalin. Chủ nghĩa Lenin mà ĐCSVN tiếp thụ từ đầu là qua sự lư giải, diễn dịch của Stalin, qua các sách của Stalin, như "Nguyên lư chủ nghĩa Lenin“ (1924), "Những vấn đề của chủ nghĩa Lenin“ (1926). V́ thế có thể nói không sai rằng ĐCSVN tiếp thụ chủ yếu là chủ nghĩa Stalin. Theo quyết định của QTCS, trong thời gian đầu khá dài, hai ĐCS Trung Quốc và Pháp được giao nhiệm vụ "đỡ đầu“ ĐCSVN. V́ vậy, ĐCSVN c̣n chịu thêm ảnh hưởng trực tiếp và sâu sắc của chủ nghĩa Mao. Việc Nguyễn Ái Quốc vốn là đảng viên của ĐCSTQ, từng phục vụ trong Hồng quân Trung Quốc, và việc Stalin thỏa thuận với Mao Trạch Đông hồi năm 1950 giao cho Trung Quốc phụ trách Việt Nam càng làm sâu đậm thêm ảnh hưởng chủ nghĩa Mao đối với Việt Nam.

Cái tinh thần sùng bái Stalin và Mao Trạch Đông trong ĐCSVN đă có một thời gian dài rất nặng, chủ yếu là do các lănh tụ và bộ máy tuyên truyền của đảng gieo rắc cho cán bộ, đảng viên, rồi truyền ra dân chúng. Chính kẻ viết bài này đă nhiều lần chứng kiến hiện tượng đó. Chẳng hạn, hồi năm 1950, lúc c̣n làm ủy viên Thường vụ tỉnh ủy Thừa Thiên, đă được TƯ ĐCS (lúc bấy giờ là ĐCS Đông Dương) triệu tập ra chiến khu Việt Bắc dự hội nghị cán bộ để chuẩn bị cho đại hội 2 của đảng vào năm sau. Tại hội nghị đó, Hồ Chí Minh đă giải thích về chủ trương đổi tên ĐCS Đông Dương thành Đảng lao động Việt Nam. Sau khi giải thích lợi ích của việc đổi tên đảng là để đảng dễ dàng gần gũi, lôi kéo nhiều tầng lớp dân chúng, nhất là các tầng lớp trên, cả miền Bắc lẫn miền Nam đang c̣n nghi ngại đảng, ông giơ cao nắp hộp thuốc lá thơm Craven „A“ của ông lên về phía có nhăn hiệu thuốc và nói: „Đây là Đảng cộng sản“, rồi ông quay phía trong nắp không có nhăn hiệu và nói: „C̣n đây là Đảng lao động“. Ông lại lớn tiếng hỏi: „Thế th́ các cô, các chú thấy có khác ǵ nhau không?“ Cả hội trường đồng thanh đáp vang: „Dạ không ạ!“. Ông nghiêm nghị nói: „Các cô, các chú nên biết rằng việc đổi tên đảng ta, Bác đă xin ư kiến các đồng chí Stalin và Mao Trạch Đông rồi (chúng tôi được biết hồi đó ông vừa đi Moskva về), các đồng chí đă đồng ư. Các cô, các chú nên biết rằng: ai đó th́ có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông th́ không thể nào sai được“. Cả hội trường vỗ tay rầm rầm. Tại đại hội 2 của đảng (1951), Hồ Chí Minh cũng đă có những lời tuyên bố tương tự. „Ai đó th́ có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Đông th́ không thể nào sai được“. Bạn đọc có thấy không, cái đó là cái ǵ, nếu không phải là sự sùng bái Stalin và Mao Trạch Đông đến độ mù quáng? Đây là một chuyện thật 100%, những người cùng thời với chúng tôi đều biết rơ và nhớ kỹ những chuyện như thế, tiếc rằng không mấy ai chịu viết sự thật lên giấy trắng mực đen!

Để chứng minh bằng „giấy trắng mực đen“ là Hồ Chí Minh đă hết sức đề cao Stalin và Mao Trạch Đông như thế nào, chúng tôi đành phải dẫn ra vài câu trong "Tuyển Tập Hồ Chí Minh“ xuất bản bằng tiếng Pháp hồi năm 1962 (chúng tôi dùng chữ "đành phải“ v́ lần xuất bản này xảy ra sáu năm sau đại hội 20 ĐCSLX, là đại hội đă vạch trần những tội ác của Stalin, nên nhiều câu ông Hồ ca ngợi Stalin có thể đă bị xóa bỏ từ lâu rồi): "La révolution vietnamienne doit apprendre et a beaucoup appris de l’expérience de la révolution chinoise. L’expérience de la révolution chinoise et la pensée de Mao Tsé Toung nous a permis de mieux comprendre la doctrine de Marx-Engels-Lénine-Staline. Les révolutionnaires vietnamiens doivent en garder le souvenir et se montrer reconnaissants“ - Cách mạng Việt Nam phải học và đă học nhiều kinh nghiệm của cách mạng Trung Quốc. Kinh nghiệm cách mạng Trung Quốc và tư tưởng Mao Trạch Đông đă giúp cho chúng tôi hiểu thấu đáo hơn học thuyết của Marx-Engels-Lenin-Stalin. Những người cách mạng Việt Nam phải luôn luôn ghi nhớ và biết ơn Mao Trạch Đông về sự cống hiến to lớn đó (xem: Hồ Chí Minh. Oeuvres Choisies, t.2, Ele, Hanoi, 1962, p. 221-222). Như vậy là những người cộng sản Việt Nam lĩnh hội chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin qua sự lư giải và thực hành của Mao Trạch Đông, qua tư tưởng Mao Trạch Đông. Tại đại hội 2 ĐCSVN (2.1951), đại hội đă quyết định rằng cơ sở tư tưởng của Đảng lao động Việt Nam (tức là ĐCSVN) là chủ nghĩa Marx-Engels-Lenin-Stalin và tư tưởng Mao Trạch Đông. Cũng xin nói thêm, đến năm 1986, khi xuất bản „Toàn Tập Hồ Chí Minh“ bằng tiếng Việt - tức là sau khi ĐCSVN và ĐCSTQ đă mâu thuẫn nhau cao độ, thậm chí đem quân đánh nhau dữ dội ở biên giới Viê.t-Trung - th́ trong bài này „người ta“ đă cố t́nh cắt bỏ một đoạn, trong đó có những câu vừa nói trên (xem: Hồ Chí Minh. Toàn Tâ.p. NXB Sự Thật, Hà Nội, 1986, t.6, tr. 12)! Và đây chẳng phải là trường hợp duy nhất của lối làm việc không trung thực khi xuất bản „Toàn Tập Hồ Chí Minh“. 

Trong „văn học nghệ thuật cung đ́nh“ Việt Nam, một thời gian dài đă vang lên bao nhiêu bài thơ, bài ca tôn vinh Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh như những bậc thánh sống. Tố Hữu, người cai quản văn nghệ „xă hội chủ nghĩa“ một thời, là nhà thơ chuyên làm những bài tụng ca các vị thánh sống đó:

...“Bữa trước mẹ cho con xem ảnh
Ông Stalin bên cạnh nhi đồng
Aú Ông trắng giữa mây hồng
Mắt Ông hiền hậu, miệng Ông mỉm cười“...

...“Hoan hô Stalin!
Đờiđời câyđại thọ
Rợp bóng mát ḥa b́nh
Đứngđầu sóng ngọn gió!
Hoan hô Hồ Chí Minh!
Cây hảiđăng mặt biển
Băo táp chẳng rung rinh
Lửa trường kỳ kháng chiến!“...
...”Stalin! Stalin!
Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếngđầu ḷng con gọi Stalin!
Hôm qua loa gọi ngoàiđồng
Tiếng loa xé ruột xé ḷng biết bao
Làng trên xóm dưới xôn xao
Làm sao, Ôngđă... làm sao, mất rồi!
Ông Stalinơi, Ông Stalinơi!
Hởiơi, Ông mất! Đất trời có không?
Thương cha, thương mẹ, thương chồng,
Thương ḿnh thương một, thương Ông thương mười
Yêu con, yêu nước, yêu ṇi
Yêu bao nhiêu lại yêu Người bấy nhiêu!“...

C̣n Đỗ Nhuận, tổng thư kư Hội âm nhạc, hết lời ca tụng các „lănh tụ“ kính yêu trong ca khúc của ḿnh:

...“Việt Nam Trung Hoa,
Núi liền núi, sông liền sông,
Chung một biển Đông,
Mối t́nh hữu nghị sáng như vừng Đông.
Anh ở bên ấy, tôi ở bênđây,
Sớm sớm chung nghe tiếng gà gáy rộn,
....
Chung một ư, chung một ḷng,
Đường cách mạng thắm màu cờ hồng
A! A...
Nhân dân ta ca muôn năm
Hồ Chí Minh, Mao Trạch Đông!“...

Tóm lại, trong một thời gian rất dài, trong thời kỳ bí mật cũng như sau khi cướp được chính quyền, Stalin và Mao Trạch Đông là những mặt trời, những ngôi sao, những ngọn cờ vẫy gọi ĐCSVN, c̣n ĐCSLX và ĐCSTQ thật sự là mẫu mực cho ĐCSVN rập khuôn cả về tư tưởng, cả về lề lối sinh hoạt lẫn về kiểu cách tổ chức bộ máy đảng-nhà nước...

3. ĐCSVN ø vốn là một phân bộ của QTCS, một bộ phận của PTCSQT. Mà QTCS xây dựng trên những nguyên tắc tập trung dân chủ, cho nên ĐCSVN, cũng như tất cả các ĐCS khác, phải tuyệt đối phục tùng một trung tâm, trung tâm đó về h́nh thức là BCH QTCS, về thực chất là tập đoàn thống trị ĐCSLX. Đúng như Nguyễn Ái Quốc đă nói: „Việc ǵ chưa có mệnh lệnh và kế hoạch của Đệ Tam Quốc tế th́ các đảng không được làm“. Điều này nói lên sự lệ thuộc chặt chẽ của ĐCSVN vào tập đoàn thống trị ĐCSLX (và ĐCSTQ) trong một thời gian dài. Trong thời gian đó, sự sùng bái cá nhân Stalin và Mao Trạch Đông trong ĐCSVN làm cho sự lệ thuộc này càng trầm trọng thêm.


 Home                                                                                                    Xem Tiếp >>>>